AI LẮNG NGHE DÂN
AI LẮNG NGHE DÂN ?
Luật gia Vũ Xuân Tiền Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH tư vấnVFAM Việt Nam
Luật cán bộ, công chức đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực thi hành từ 1/1/2010. Luật cán bộ, công chức sẽ thay thế Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26/02/1998 và các Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung sau đó. Với sự “nâng cấp” từ Pháp lệnh cán bộ, công chức lên thành Luật cán bộ, công chức, mọi công dân Việt Nam có quyền hy vọng rằng, trong những năm tới, đất nước ta sẽ có một đội ngũ cán bộ, công chức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ” và khi đó, mọi công dân sẽ được tôn trọng hơn, được phục vụ tận tình hơn. Tuy nhiên, đó mới chỉ là hy vọng vì không phải cứ nâng Pháp lệnh lên thành Luật là mọi việc sẽ tự nó tốt đẹp hơn. Phát biểu trong buổi đối thoại với các doanh nghiệp, doanh nhân ngày 14/10/2004, nguyên Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã thẳng thắn khẳng định: “Trong nhiều năm làm Thủ tướng, tôi canh cánh một điều trong lòng, và chắc là cả đến khi nghỉ hưu, là bộ máy của chúng ta hư hỏng, làm sao đẩy lùi được…”. Với thực trạng như vậy, để có một đội ngũ cán bộ, công chức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” đâu có thể giải quyết ngay trong một sớm, một chiều. Trong hàng loạt vấn đề cần giải quyết để Luật cán bộ, công chức đi vào cuộc sống, vấn đề mở đầu và quan trọng nhất phải là sửa đổi quan hệ của cán bộ, công chức với nhân dân. Ai nghe dân? Khoản 2 và khoản 3 Điều 8 Luật cán bộ, công chức quy định: “ 2. Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân. 3. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân”. Trong quy định nêu trên, “Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” là điều kiện quan trọng nhất. Bởi, nếu không làm được điều đó, thì cán bộ, công chức cũng không thể “tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân” được. Có thể nói, cho đến nay, nguyên tắc “Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” đã không tồn tại trong mối quan hệ giữa cán bộ, công chức với nhân dân. Các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước luôn luôn mong muốn được liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe nhân dân. Song, với khối lượng công việc đồ sộ phải giải quyết hàng ngày, họ không thể trực tiếp gặp dân và nghe dân. Do đó, việc liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe nhân dân tất yếu phải giao cho cấp trung gian và cơ sở. Nhưng thực tiễn ở nước ta cho thấy, gần như không có cán bộ nào ở cấp trung gian và cơ sở “ liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe nhân dân”. Bởi lẽ, Nhà nước ta chưa phải là Nhà nước phục vụ mà vẫn chủ yếu là Nhà nước cai trị, cho nên chỉ cần ngồi vào một cái ghế công chức nào đó, tự nhiên người cán bộ đó đã cho mình là một “quan chức”, là bề trên của nhân dân. Sao có thể được coi là “liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân” khi cả năm, vị Chủ tịch UBND phường không hề đến họp với tổ dân phố? Sao có thể coi là “Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” khi hàng nghìn đơn từ khiếu kiện của dân, sau khi đi vòng quanh các cơ quan công quyền, lại quay về đúng cơ quan bị kiện? Sao gọi là “Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” khi các cuộc khiếu kiện đông người, vượt cấp về thu hồi đất đai, về bồi thường bất hợp lý… vẫn xẩy ra ngày càng nhiều? Ngay cả việc bố trí nơi tiếp đón người dân đến cơ quan công quyền trình bày nỗi oan ức của mình, các cơ quan công quyền của ta cũng có sự phân biệt rất rõ ràng. Hầu như các cơ quan công quyền đều phân biệt phòng “Tiếp khách” và phòng “Tiếp dân”. Phòng “Tiếp khách”, được trang trí thật đẹp, lịch sự, để tiếp cấp trên và những đối tác trong hệ thống cán bộ, công chức. Phòng “Tiếp dân” thì đơn sơ hơn (thậm chí là không đảm bảo cả về vệ sinh) và là nơi các “quan chức” tiếp “dân” để ban phát ân huệ. Đó không phải chỉ là hình thức mà hàm chứa một nội dung, chứng tỏ người dân đã và đang không được tôn trọng. Giá như cái “Phòng Tiếp dân” ấy được sửa lại là “ Phòng tiếp Công dân” thì ý nghĩa cũng đã khác, tức là người được tiếp trong đó là một công dân và có các quyền của một công dân. Song, đáng tiếc là rất ít cơ quan chú ý đến điều đó. Và…nghe như thế nào? Công bằng mà nói, trong xu thế cải cách thủ tục hành chính, một số cơ quan công quyền đã tỏ ra lắng nghe ý kiến của nhân dân. Các cuộc đối thoại với nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân được tổ chức khá nhiều và rất bài bản. Người dân và các doanh nghiệp, doanh nhân được mời phát biểu công khai những bức xúc của mình. Người đại diện cơ quan công quyền có liên quan rất khiêm tốn xin tiếp thu, “đánh giá cao” và chân thành cảm ơn các ý kiến góp ý. Song, sau hội nghị, sau các buổi đối thoại, những ý kiến đã được “đánh giá cao” ấy lại nhanh chóng “chìm vào quên lãng”! Lắng nghe và “chân thành cảm ơn” nhưng mọi việc trong thi hành công vụ vẫn không hề thay đổi. Như vậy, cái sự “lắng nghe và chân thành cảm ơn” ấy sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Đó là lý do giải thích vì sao rất nhiều ý kiến góp ý thấu tình, đạt lý, với ý thức xây dựng của nhân dân, doanh nghiệp và doanh nhân cho dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật đã không được tiếp thu? Các Công văn, Thông tư ngang nhiên sửa Nghị định của Chính phủ, sửa cả Luật đã ban hành và đã được báo chí nêu đích danh, nhưng vẫn có hiệu lực để “hành” dân và không một cơ quan quyền lực nào can thiệp! Trong giai đoạn hiện nay, thay đổi cơ bản mối quan hệ giữa cán bộ, công chức với nhân dân là vấn đề quan trọng và cấp bách hơn cả. Đó là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại vững chắc của cả hệ thống chính trị. Bởi lẽ, khi chưa giải quyết được tận gốc vấn đề đó, khẩu hiệu “Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân” vẫn chỉ là khẩu hiệu suông mà thôi. Để giải quyết vấn đề đó, xin kiến nghị: 1. Cần có quy định chi tiết hơn nữa đối với hầu hết những vấn đề trong Luật cán bộ, công chức đã ban hành và có hiệu lực từ 1/1/2010. Với 10 chương và 87 điều khoản, Luật cán bộ, công chức vẫn không tránh khỏi tình trạng “luật khung, luật ống”. Do đó, phần lớn các quy định đều là định tính, rất khó cho nhân dân kiểm tra, giám sát đối với các cán bộ, công chức. Chẳng hạn, với khoản 3 Điều 8, các câu hỏi được đặt ra là: thế nào là liên hệ chặt chẽ với nhân dân? Thế nào là lắng nghe ý kiến của nhân dân? Và cơ chế nào để cán bộ, công chức chịu sự giám sát của nhân dân? 2. Cần có quy định, hướng dẫn chi tiết để thực hiện điều 15 của Luật. Điều 15 chỉ ngắn gọn: “Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong thi hành công vụ”.Nếu quy định như trên và không có một hướng dẫn chi tiết nào thì quy định đó chỉ là một khẩu hiệu. Cần đánh giá một cách khách quan xem hiện nay các cán bộ, công chức ở nước ta đã và đang thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” như thế nào? Có thể nói rằng, tất cả những yêu cầu đó đều không được thực hiện nghiêm túc. Chẳng hạn, nếu thực hiện nghiêm chữ “liêm”, tức là người làm chưa tròn nhiệm vụ, chưa xứng đáng với quyền lợi được hưởng của mình thì ít ra, cán bộ, công chức đó phải biết xin lỗi dân. Song, cái “văn hóa xin lỗi” như vậy gần như chưa có trong các cán bộ, công chức Việt Nam! 3. Cần có văn bản quy định chi tiết hơn nữa về Thanh tra công vụ. Luật cán bộ, công chức dành Chương 8 và chỉ có 2 Điều khoản quy định về phạm vi thanh tra công vụ và thực hiện thanh tra công vụ. Đó là quy định quá sơ sài chứng tỏ Thanh tra công vụ chưa thực sự được quan tâm. Có hàng loạt câu hỏi được đặt ra như: Thanh tra công vụ thuộc cơ quan nào quản lý? Quyền hạn và nghĩa vụ của Thanh tra công vụ như thế nào? Mối liên hệ giữa Thanh tra công vụ với nhân dân? Công dân và các doanh nghiệp, doanh nhân khi bị các cán bộ công chức trong bộ máy công quyền sách nhiễu thì có thể phản ánh với Thanh tra công vụ không? Thanh tra công vụ có vai trò rất quan trọng vì vậy không nên chỉ lập ra một cách hình thức. Còn nhiều, rất nhiều vấn đề cần giải quyết để Luật cán bộ, công chức có hiệu lực thực sự trong cuộc sống. Song, gần dân, tôn trọng nhân dân, lắng nghe và chịu sự giám sát của nhân dân là vấn đề quyết định. Làm được điều đó chính là đã học tập và làm việc theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
( Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 01/2010 ngày 7/1/2010)
|